Giới Thiệu

ĐƯỜNG VỀ XỨ TẠNG - TRƯỜNG KHA (Báo VHPG số Đặc biệt 218 +219)

Chưa một lần trong đời tôi dám nghĩ một ngày nào đó, bước chân mình hiện hữu trên vùng cao nguyên Thanh Tạng. Mỗi cung bậc của cuộc sống, điều tôi có thể làm được để tiếp cận gần hơn với những ước mơ là ý chí và sự nổ lực cố gắng không ngừng. 
Nhiều điều đi qua trong không tưởng, tôi hiểu hơn về những điều chẳng thể làm sao giải thích được, chỉ có sự đồng cảm tôn giáo mới đánh bậc mọi định kiến suy diễn.
Mùng sáu, tháng giêng, năm Giáp Ngọ.
Trong cơn mơ, tôi lạc vào vùng hoang lạ, không gian u tịch xám mờ trong làn sương nhẹ, men theo lối đi, một lực hút vô hình kéo mạnh tôi đến ngạch cửa một ngôi đền, cảm giác lo sợ , lấy hết can đảm, với tay đẩy nhẹ khung cửa, bên trong là một điện thờ, chính giữa là tượng Ông, hai bên là tượng Bà, làn hương trầm từ đâu ngan ngát tỏa khắp chánh điện, khói bay nghi ngút, cảm giác thật huyền hoặc, giật mình tỉnh giấc, mồ hôi tuông đẫm áo.
Từ sau giấc mơ, công việc cuốn hút khiến tôi không còn để tâm, lưu ý điều gì đã qua.
Vào một chiều, nhận lời mời của anh chị bạn đạo uy tín trong ngành xuất bản, đến thăm ngôi gia anh chị ở quận ba, dẫn tôi thăm quan khắp quanh nhà, họ mong muốn vài lời góp ý để ngôi nhà mới được khang trang, khi ra về, chị cầm trên tay món quà gởi tặng, bảo rằng không biết bên trong là gì chỉ biết chuyển lại, tùy nghi sử dụng, cầm trên tay suốt quảng đường về nhà, thật lạ, cảm xúc hạnh phúc dâng tràn như bay bổng, niềm hạnh phúc không như đứa trẻ được người lớn cho kẹo, không phải những khoản vật được ai đó trao tặng hay khoản tiền tôi có được từ công việc kinh thương.... một cảm giác không tả được bằng lời, chỉ những người đã từng cảm nhận những giá trị tâm linh mới hiểu hết được điều tôi diễn đạt, tôi muốn ngay về nhà chia sẻ cùng những người thân, nhưng mọi việc không như ý, công việc gấp gáp khiến họ không thể nán lại. Mở cẩn thận từng lớp giấy gói, ngạc nhiên hơn vì bên trong là một con Ốc được trang trí họa tiết kim loại bao bọc xung quanh như một vật lưu niệm, sau này tiếp chuyện cùng các vị Yogin xứ Tạng, tôi mới biết Ốc được gọi là Pháp Loa – là biểu tượng cho chánh pháp lưu truyền khắp nơi - là một trong tám bảo vật Bát Báu Kiết Tường (Nước – Rượu – Hoa – Nến – Trầm Hương – Tinh dầu – Trái Cây – Kèn Ốc Loa) mà ngài Chakratin (Chuyển Linh Thánh Vương) thường sử dụng để cúng dường Tam Bảo.
Giấc mơ cũ lại trở về lặp đi lặp lại liên tiếp trong hai đêm khiến tôi không khỏi phân tâm, việc tìm kiếm thăm hỏi nhiều bạn đạo về ngôi thờ tự có đặc điểm tương tự trong nhiều ngày nhưng tất cả đều lạ lẫm, viếng thăm nhiều đền chùa trong khu vực cũng như lận cận khiến tôi càng thất vọng, không còn tập trung đến công việc, thầm nghĩ bụng có điều gì đó từ sứ mệnh này, xin sự đích thân chỉ bảo, như bao phật tử bình thường khác, giữa trùng điệp điện thờ tôi biết đâu ngôi thờ tự như sự khơi gợi, tôi cần điều gì đó thực tế hơn mong lung mơ màng, mặc dù tôi tin vào cảm xúc cũng như trực giác chính mình.
Mọi việc trôi qua trong sự hoài nghi, tôi hiểu mình còn công việc mưu sinh không thể bỏ mặc, không thể sống trong sự thấp thỏm, tôi mặc kệ cho đến một buổi sáng nọ, người phụ nữ trên một chiếc xe màu xám bạc, dừng bước trước cửa nhà, chị vào trong chào hỏi và mong muốn ấn tống giúp cuốn tự truyện về hành trình tu tập đắc đạo của một vị sư Tây Tạng, công việc có phần khẩn cấp nên xúc tiến trước khi chị quay trở lại tu viện Thubten Chokor Ling – Golog, công việc in ấn cần sự cấp phép thông qua đơn vị kiểm duyệt, tôi hẹn chị sau hai ngày trả lời, chị đồng tình.
Chưa đến ngày, chị đến thông báo với tôi vướn mắc visa vào Trung Quốc, muốn có mối quan hệ có thể giúp chị giấy thông hành, qua giới thiệu tôi biết chị tên Thật – hiện là thư kí đại diện Việt Nam tại tu viện ngài Hungkar (Đạo Sư của dòng truyền thừa Nyingma – hóa thân hạnh nguyện của ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát). 
Với các phật tử, tôi luôn ủng hộ bằng khả năng mình, nên việc chị nhờ, qua sự thăm hỏi, tôi biết chị bị cấm ở tất cả các hạn mục visa Trung Quốc với lý do chị đã lưu trú vượt thời gian quy định, trừ hạng visa thương nhân, để được cấp giấy thông hành cho trường hợp này, đích thân tôi là người bảo lãnh chị và đi cùng chị trong cuộc hành trình, tôi có điều kiện đi cùng một người bạn, chị tỏ vẻ rất hoan hỉ, mặc vậy, chị vẫn ngại tôi bị khó khăn khi xin Permit (giấy thông hành lưu trú ở Tây Tạng) với lí do tuổi tác, tuy nhiên tôi nghĩ mọi việc sẽ ổn.
Hộ chiếu chị được gởi ra Hà Nội với phiếu hẹn một tuần làm việc, chúng tôi đặt vé cho cuộc hành trình đến Golok. Đến ngày đi, chị phải hoãn lại sau 3 ngày vì người có thẫm quyền quyết định ký duyệt đang công tác xa, chúng tôi bay trước, và hẹn gặp lại tại Thanh Hải (Xiníng).
Sau chặn bay dài đổi chuyến qua ba tỉnh Nam Ninh - Bình An – Bắc kinh, mười hai giờ đêm chúng tôi đến sân bay Thanh Hải, nhập cảnh vào Tây Tạng, chúng tôi bị an ninh xét hỏi vì thông hành bằng thẻ Apec, sau lời giải thích và chứng minh chỉ du lịch hoàn toàn không mục đích chính trị (Passport cá nhân đã qua hơn bảy mươi hai quốc gia) chúng tôi được nhập cảnh.
Trời khuya, Thanh Hải lạnh buốt lòng, cùng hành trình dài tôi thấm mệt, mặc dù trước khi qua Tây Tạng, chị Thật đã liên hệ với ngài Hungkar đặt chỗ lưu trú chỉ định khách sạn cho chúng tôi, nhưng với điều kiện sức khỏe tôi quyết định thuê khách sạn gần sân bay để nghĩ lại. Gần hai giờ sáng chúng tôi mới hoàn tất mọi thủ tục đặt phòng, nhận phòng vừa hớp ngụm nước để qua cơn đói, nhân viên lễ tân thông báo, có cuộc hẹn tại quầy sau mười phút, chẳng hiểu chuyện gì đang xảy ra, tôi đành quay lại nơi làm thủ tục đăng kí, cô nhân viên khách sạn đưa tôi chiếc điện thoại bàn, vừa nhấc máy đầu dây bên kia giọng người đàn ông bảo ngài Hungkar chuyển lời “sáu giờ sáng có người đón chúng tôi trước cửa khách sạn, mọi việc tiếp dẫn sau”. Trở lại phòng tôi cứ ngẩn ngơ, làm thế nào họ có thể biết được tôi đã đến nơi và lưu trú lại đây, suốt đêm trằn trọc, đúng giờ hai chúng tôi trả phòng, bên ngoài khách sạn người đàn ông với chiếc xe màu xám chuột đã chờ sẵn, hành trình vượt ngàn cây số đến Golog cũng bắt đầu.
Tôi gợi ý cùng anh tài xế muốn viếng thăm tu viện trong vùng Thanh Hải để tôi chiêm bái Phật trước khi về tu viện, anh đồng tình, sau 40 phút chúng tôi đến tu viện Taer Monastery – qua lời giới thiệu, tôi biết được đây là một trong sáu ngôi Đại Tùng Lâm quan trọng của tông phái Cách Lỗ Tông trên toàn Tây Tạng – là nơi hợp nhất Tăng Chúng tu học nghiêm cẩn, sự góp công to lớn của ngài Đại sư Tông Khách Ba (Tsong Khapa) - sư tổ của phái Cách Lỗ (Gelugpa Sect), tu hạnh hóa thân của trí huệ Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi (Manjusri). Nơi đây còn nổi tiếng với tích cây Cổ Lai Chiên Đàn (cây có trăm ngàn tượng Phật) nằm chính giữa các điện nên còn có tên gọi Thập Vạn Phật (Kum Bum Monastery).
Chúng tôi sợ phiền anh tài xế nên bước vội mua vé vào trong theo cổng chánh đông để được vào chiêm bái Phật, sự nhẹ nhàng vắng lặng hòa quyện cùng sắc màu đặc trưng tu viện tạo nên dáng vẻ nguy nga hiện hữu thách thức cùng thời gian, đi qua tháp mái vàng của Hộ Tháp Điện (Dharma Protector Temple) chúng tôi bắt gặp biểu tượng thường thấy thông qua thông tin báo giới – hàng Như Lai Bát Tháp (Eight Great Stupas) được nhiều khách thập phương cũng như người dân Thanh - Tạng bái lạy trước các Stupa, sau khi thăm viếng các điện thờ trong tu viện, ngồi nán lại một góc bên thềm Hộ Pháp Điện, mắt tôi không rời nhìn về hướng khuất tầm có một ngôi thờ như ngôi nhà hoang, rất ít khách thăm viếng, có thể vì họ đã lướt qua, mặc khác vì ngôi điện này cửa vào khá nhỏ so với khung tường chắn kiên cố bao quanh, nên rất khó để khách thập phương xác định bên trong có điện thờ, tôi lập tức tiến lại gần hơn, khói hương trầm nghi ngút, trước cửa điện là một tảng đá được dán nhiều loại tiền nằm trên một mô đất áng ngữ trước cửa điện tạo thành hai lối vào điện chánh, hai bên được trồng hai cây tùng to lớn như hai vị Hộ Pháp canh giữ điện, không gian linh thiêng huyền hoặc, tôi linh cảm được sự tương đồng với những gì đã gặp trong giấc mơ, bước sâu hơn, vỡ òa trong tôi cảm xúc khó tả, ba vị được tôn thờ trong điện hình tượng thật gần gũi, tôi quỳ lạy dập đầu và xem như một nhân duyên to lớn nào đã sắp đặt cho tôi được toại ý theo chỉ dẫn trên con đường tu học ở phương Đông – một ngã rẽ định mệnh sau này trên con đường tu Mật và tu viện này sau khi đọc thông tin trên các chỉ dẫn tôi biết được là nơi thờ phụng mẹ ngài Tông Khách Ba - cũng là nơi duy nhất có một tháp bảo Stupa Niết Bàn (Stupa of Nirvana) không có bốn tầng Tứ Diệu Đế ở đáy tháp, điều này biểu tượng cho sự viên mãn tu thành chánh quả.
Chúng tôi nhanh chóng rời khỏi tu viện Taer về Golog, dưới ánh nắng vàng đủ nóng làm cháy ửng đỏ những đôi má người Tạng, dọc trên đường anh tài xế thỉnh thoảng mở cửa để gió lồng vào trong, chúng tôi quen dần với áp suất độ cao bên ngoài, anh bạn đi cùng phấn khởi với suy nghĩ được nhìn tuyết trắng xóa trên đỉnh Golog, bên ngoài núi non trùng điệp, vài đàn trâu Yak chậm chạp khoang thai băng ngang con đường, lưa thưa vài căn nhà tạm của người dân du mục, mọi thứ xung quanh như xa dần với đời sống thế tục, sự hoang vu bao trùm khắp nẻo đường, nhiều mạn Mandala được giăng trên các vách đá cheo leo tạo nên một bức tranh thiêng đặc trưng không nơi nào có được, tôi thiếp đi lúc nào không hay.
Có tiếng gõ cửa cùng ngôn ngữ lạ, choàng tỉnh, tôi đã đến tu viện Thubten Chokor Ling, nhìn đồng hồ cũng đã năm giờ chiều, một vị Yogin giúp chúng tôi khuân hành lý, Yogin khác ra dấu mời chúng tôi đi theo chỉ dẫn của họ, anh bạn đi cùng thất vọng rõ nét trên khuôn mặt, ngoài những vũng nước sình lầy, trên con đường đất của tu viện chẳng có mảng tuyết nào, chúng tôi vào trong điện có nhiều vị sư đang làm lễ cầu nguyện, ngài Hungkar Dorje Rinpoche ngồi trên bụt cao, chúng tôi tiếp lễ xá lạy và xin phép về phòng nghĩ ngơi.
Hai bạn cộng tu người Trung Quốc đến tu viện trước chúng tôi một ngày, lưu trú cạnh phòng, họ nói rằng có ai đó thúc giục họ đến, sau cuộc trò chuyện, mọi người về lại phòng sinh hoạt, đêm đầu tiên, tôi bị hội chứng độ cao khó thở, đầu tôi nhứt buốt, thật may hai bạn phòng bên là bác sĩ đông y đã châm cứu giúp tôi khỏe được phần nào.
Một ngày đão quanh viếng các điện thờ trong tu viện, chợt trong đầu tôi xuất hiện ngôn từ Lamasang, tôi không hiểu tại sao lại đọc được ngôn từ này, khi hỏi người bạn đồng tu, khá bất ngời vì cha ruột ngài Hungkar đã viên tịch ngày 26/2/2009 có tên gọi của Kusum Lingpa Rinpoche (Lamasang).
Tôi lại bị cơn đâu dữ dội về đêm, trong cơn mơn man say, tôi gặp hai vị tu sĩ một cao lớn, một thấp tầm nước da sẫm đến thăm hỏi.
Anh bạn thân chạy mượn bình oxy lỏng giúp tôi thở, thông tin về Việt Nam, các anh chị phật tử thân cận lo lắng, gởi đồ giữ nhiệt sang để tôi không bị cảm lạnh, đến sáng tôi vẫn không thể rời khỏi vị trí nằm, cái lạnh xứ Tạng làm buốt các chân tay, da tôi đổi màu đen dần, tình hình không khả quan hơn, khóa tu học mỗi ngày hai thời nghiêm ngặt khiến mọi người phải tuân thủ, riêng mình tôi phải nằm lại phòng, trong lúc không thể nhờ sự trợ giúp nào, những tưởng gởi xác thân lại xứ này lòng cũng thật an bình, trước tôi mươi ngày, đã có người ra đi vì hội chứng tương tự. Mọi thứ tĩnh lặng khó tả, ai đó kéo phần mềm trùm mặt tôi xuống, ánh sáng làm tôi thức giấc, mắt tôi như sáng ngời vì không thể tin được hai vị sư tôi thấy đêm qua đang hiện diện, họ từ Nepal mới đến, cầm tay tôi bắt mạch, tôi đỡ hơn sau khi uống một ly nước hòa tan một thứ bột trắng đục, nụ cười từ bi trên khuôn mặt hai vị sư - thật cảm kích.
Một tuần trôi qua, tôi vẫn không có tin tức gì về chị Thật, bồn chồn không biết chị có đến như đã hẹn, mỗi ngày trôi qua thật nhanh, tôi đã chuẩn bị sẵn nhiều phong thư tiền để ba chúng tôi chia sẽ với dân Tạng quanh tu viện Thubten, vị Yogin trẻ chuyển lời ngài Hungkar mời chúng tôi dùng điểm tâm chiều (điểm tâm là từ dùng khi ăn nhẹ lót dạ), lúc ngồi tiếp chuyện, Ngài nói chúng tôi ngày mai chị Thật đến nơi, tôi thầm vui bụng.
Về lại phòng, tôi lại gặp hội chứng độ cao, lần này thật nặng nề, mọi thứ trở nên tệ hơn, huyết áp hạ đến mức báo động, không khác được, tôi xin ngài Hungkar cho phép rời khỏi tu viện gấp rút xuống độ cao thấp hơn nghĩ dưỡng và quen dần với khí hậu khắc nghiệt, nhưng ngài Hungkar cho người mang đến một bình dưỡng khí lớn bảo tôi cố gắng chờ đến bảy giờ sáng. Điều làm được trong lúc này là sự cầu nguyện - mong về lại Thanh Hải.
Như thường lệ năm giờ sáng cả hai anh em chúng tôi đều thức giấc, nhưng hôm nay phải nhờ đến sự đánh thức của một vị Yogin, chúng tôi vệ sinh phòng thật nhanh để đến chào ngài Hungkar ra về, hành lí được các Yogin khuân xếp sẵn vào xe, cả hai anh em chúng tôi nhìn nhau tròn mắt khi cánh của phòng chung (mỗi một dãy phòng đều có một cửa chung để hãm lạnh bên ngoài vào) vừa mở, ngoài trời tuyết trắng phủ khắp các nơi, hạnh phúc vỡ òa bay bổng, chúng tôi chạy tung tăng trên tuyết, từng dấu chân lưu lại sau lưng, hấc mạnh từng táng lá tùng, những mảng tuyết rơi tung trên áo, sự thích thú hồn nhiên như những đứa trẻ quên hẳn ngoài cổng tu viện, ngài Hungkar trên tay cầm hai chiếc khăn trắng (Khata) cùng hai Kinh Luân giữa hai hàng các vị Yogin đang đợi để tiễn chúng tôi ra về.


Trở lại Thanh Hải, suốt chặng đường dài tuyết xóa mờ lối, anh tài xế trấn an đưa tôi hộp giấy, bên trong có nhiều sấp giấy nhỏ nhiều màu sắc được in hình một vị thần cỡi ngựa đang phi về nước Đại, thỉnh thoảng anh kéo cửa kiếng và bảo tôi cầm sấp giấy thả bay vào núi đồi.
Nhiều lần gặp phải cảnh sát an ninh trên hành trình Golog, nhưng chúng tôi không bị kiểm tra hay đóng phí permit thông hành (thường bốn mươi Nhân Dân tệ trên đầu người), sau này khi kể lại ai cũng nghi ngại về tính hi hữu.
Ngày về đến Thanh Hải, cũng là ngày chị Thật đến tu viện Thubten, ba chúng tôi đã liên lạc được nhau, chị tiếc vì sự chậm trễ, huyên thuyên đắc ý kể chị nghe về tuyết phủ kín tu viện, chị ngắt lời như thể tôi vừa kể về một vùng đất xa lạ, chị bảo đang ở tu viện, ngoài trời se se lạnh, tuyệt nhiên chẳng có tuyết nào ở đây.


Về lại Sài Gòn, trên bàn làm việc có phong thư cũ của anh chị nhà xuất bản nọ, trong thư nét chữ cẩn thận với lời xin lỗi vì chưa kịp nói tên người nhờ chuyển Pháp Loa HUNGKAR DORJE RINPOCHE.
Có thể với bạn đó là sự ngẫu nhiên trùng hợp, nhưng cũng bởi những trãi nghiệm quý giá này, tôi luôn ý thức rằng, phải sống bằng tình thương nội tâm sâu sắc để cảm nhận sự khác biệt trong mỗi khắc sống quanh mình.
(Trường Kha)

Ngày Đăng : 14/08/2018 - 9:16 PM

facebook